Nước giếng khoan có uống được không? Phèn, nhiễm mặn và asen theo từng vùng ở Việt Nam

Nước giếng khoan có uống được không?

Nước giếng khoan chưa nên uống trực tiếp khi chưa có kết quả xét nghiệm. Ở Đồng bằng sông Hồng, nước ngầm có thể chứa asen và mangan vượt ngưỡng. Ở Đồng bằng sông Cửu Long, vấn đề thường gặp là mặn và phèn, còn các giếng nước ngọt vẫn có nơi nhiễm asen và mangan. Asen không có màu, mùi hay vị, nên nước trong veo vẫn chưa nói lên điều gì. Việc nên làm trước là xét nghiệm tại vòi, rồi mới chọn lọc cát, RO hay đổi nguồn.

Nước trong veo chưa phải nước an toàn

Nhiều nhà khoan giếng vì nước máy chưa kéo tới, hoặc vì cả nhà quen vị nước giếng “ngọt, mát”. Bể lọc cát dựng xong, nước chảy ra trong veo, và cảm giác yên tâm đến cùng với nó. Các nghiên cứu ở hai đồng bằng lớn nhất nước ta cho thấy cảm giác đó chưa phải là bằng chứng.

Lý do nằm ở thời gian. Nhóm nghiên cứu của Viện Eawag (Thụy Sĩ) làm việc cùng Đại học Quốc gia Hà Nội ghi nhận triệu chứng nhiễm độc asen mạn tính thường mất hơn 10 năm mới xuất hiện. Ở thời điểm công bố năm 2007, số ca được ghi nhận ở Việt Nam còn ít so với Bangladesh và Tây Bengal, vì giếng khoan mới được dùng rộng rãi khoảng 7-10 năm. Chính nhóm này cảnh báo số ca về sau có thể tăng. Nói cách khác, chưa thấy ai bệnh không có nghĩa là nước đã an toàn.

Nếu gia đình đã dùng nước giếng nhiều năm và thấy da sạm màu hoặc dày sần ở lòng bàn tay, bàn chân, hãy đi khám chuyên khoa và mang theo kết quả xét nghiệm nước. Tổn thương da, sừng hóa và rối loạn sắc tố là những biểu hiện của nhiễm độc asen mạn tính được nêu trong tài liệu của Eawag.

Giếng khoan nhà bạn đối chiếu theo chuẩn nào

QCVN 01-1:2024/BYT (ban hành kèm Thông tư 52/2024/TT-BYT, hiệu lực từ 01/07/2025, thay bản 2018) áp dụng với đơn vị cấp nước, đơn vị sử dụng nước và “đơn vị, hộ gia đình tự khai thác sử dụng”. Quy chuẩn này không áp dụng cho nước uống trực tiếp tại vòi. Bên cạnh đó có QCVN 09:2023/BTNMT (thay QCVN 09-MT:2015/BTNMT), dùng để đánh giá và giám sát chất lượng nguồn nước dưới đất.

Thông số Ngưỡng QCVN 01-1:2024/BYT Vì sao quan trọng với giếng khoan
Coliform tổng số; E. coli < 1 CFU hoặc MPN/100 mL Chỉ điểm nhiễm khuẩn, nhiễm phân
pH 6,0 – 8,5 Nước phèn thường có pH thấp
Asen 0,01 mg/L Nguồn gốc tự nhiên, gặp ở cả hai đồng bằng
Sắt 0,3 mg/L Nước ngầm đồng bằng sông Hồng giàu sắt; sắt còn giúp kéo asen khi lọc
Mangan 0,1 mg/L Đặc biệt đáng lo với trẻ nhỏ
Nhôm 0,2 mg/L Thường được đo khi nghi nước phèn
Amoni (tính theo N) 1 mg/L Hay đi cùng asen ở đồng bằng sông Hồng; làm hao clo khi khử trùng
Clorua 250 mg/L (300 mg/L với vùng ven biển, hải đảo hoặc khu vực nhiễm mặn) Chỉ báo nước mặn
Tổng chất rắn hòa tan (TDS) 1.000 mg/L Tổng lượng muối và khoáng hòa tan

Nguồn: bảng ngưỡng của Thông tư 52/2024/TT-BYT theo bài tổng hợp của Thư viện Pháp luật. Lưu ý về mangan: QCVN ghi 0,1 mg/L, còn Eawag dẫn mốc 0,4 mg/L (400 µg/L) khi đánh giá nguy cơ sức khỏe. Bài này đối chiếu theo QCVN và nêu rõ khi nguồn dùng mốc khác.

Tìm hiểu từng chất trong bảng: Asen, Sắt, Mangan, Nhôm, Amoni, Coliform, E. coli.

Đồng bằng sông Hồng: asen, mangan, sắt và amoni

Ô nhiễm asen ở đây được phát hiện năm 1998 quanh Hà Nội. Theo các nghiên cứu của Eawag và Đại học Khoa học Tự nhiên Hà Nội, asen có nguồn gốc tự nhiên: nó được giải phóng từ trầm tích vào nước ngầm trong điều kiện thiếu oxy, và nước ngầm ở đây giàu sắt.

Khảo sát Kết quả
Giếng khoan tư nhân quanh Hà Nội và nông thôn lân cận (Berg và cs., 2001) Asen 1-3.050 µg/L, trung bình 159 µg/L; 48% giếng vượt 50 µg/L, 20% vượt 150 µg/L. Một vùng nông thôn nhiễm nặng có trung bình 430 µg/L
Toàn đồng bằng (Winkel và cs., PNAS 2011) Khoảng 7 triệu người dùng nước ngầm chứa các nguyên tố độc; 65% giếng có asen, mangan, bari hoặc selen vượt giá trị khuyến nghị của WHO
Hai điểm cách nhau 700 m trong một làng (Eiche và cs., 2008) Asen dưới 10 µg/L ở điểm này, 170-600 µg/L ở điểm kia (độ sâu 20-50 m)
Tầng chứa nước sâu (Winkel và cs., 2011) Có asen ở tầng sâu hơn 50 m; hơn một thế kỷ bơm nước tầng sâu đã kéo nước nhiễm asen từ tầng nông xuống

Nguồn: tóm tắt các công bố đăng trên trang của Eawag link cuối bài.

Nước trong chưa thể xác định giếng nhà bạn có sạch hay không
Nước trong chưa thể xác định giếng nhà bạn có sạch hay không

Bốn điều rút ra cho người dùng giếng:

  • Giếng nhà hàng xóm sạch chưa chắc giếng nhà bạn sạch. Hai điểm cách nhau 700 m đã chênh nhau từ dưới 10 đến 600 µg/L.
  • Khoan sâu hơn chưa chắc an toàn. Asen đã được tìm thấy ở tầng sâu hơn 50 m.
  • Mangan cần được đo riêng. Eawag nêu mangan đặc biệt có hại cho trẻ sơ sinh và trẻ em vì ảnh hưởng đến phát triển trí tuệ. Nếu pha sữa cho trẻ bằng nước giếng, hãy xét nghiệm mangan và hỏi bác sĩ nhi khoa.
  • Amoni ảnh hưởng đến khử trùng. Ở một làng ven Hà Nội, điểm có asen cao ghi amoni khoảng 10 mg/L. Nghiên cứu về nước ngầm cấp cho Hà Nội (Duong và cs., 2003) cho thấy ở nguồn giàu amoni, clo bị giữ lại dưới dạng chloramine, diệt khuẩn kém hơn.

Báo Nhân Dân, dẫn các nghiên cứu, nêu những khu vực nhiễm nặng nhất gồm phía nam Hà Nội, Hà Nam, Hưng Yên, Nam Định, Ninh Bình, Thái Bình, Hải Dương. Đây là tên địa phương tại thời điểm khảo sát; nhiều tỉnh đã sáp nhập từ năm 2025.

Bari và selen, hai trong bốn nguyên tố mà nghiên cứu của Winkel và cộng sự nêu, bạn đọc cũng có thể tìm hiểu thêm: Bari trong nước giếng khoan, Selenium trong nước uống. Nếu nước giếng nhà bạn nhiều sắt, hãy xem Sắt hoặc rỉ sét trong nước giếng của bạn và cách loại bỏ nó.

Đồng bằng sông Cửu Long: mặn, phèn và asen ở giếng nước ngọt

Mặn

Xâm nhập mặn tại Đồng Bằng Sông Cửu Long
Xâm nhập mặn tại Đồng Bằng Sông Cửu Long

Nghiên cứu của Eawag (Buschmann và cs., 2008) ghi nhận nước ngầm ở hạ lưu châu thổ Mê Công nhìn chung mặn. Người dân chỉ khai thác giếng nông ở nơi tổng chất rắn hòa tan dưới 1 g/L, thay cho nguồn nước mặt nhiễm khuẩn.

Nước mặt thì thay đổi theo mùa. Cơ quan khí tượng thủy văn cảnh báo xâm nhập mặn ảnh hưởng đến nước sinh hoạt ở khu vực có độ mặn từ 0,5‰ (khoảng 0,5 g muối trong 1 lít nước). Trong mùa khô 2025-2026, ranh mặn 1‰ đã vào sâu 47,8-64 km trong nội địa.

Mùa khô 2026-2027 có thể đến sớm hơn. Ngày 16/10/2026, Bộ Nông nghiệp và Môi trường gửi Công văn 11942/BNNMT-TNN cho sáu địa phương ở đồng bằng. Theo công văn, dòng chảy về lưu vực sông Cửu Long có khả năng thuộc nhóm năm ít nước do El Niño; xâm nhập mặn có thể xuất hiện từ tháng 12/2026 và lấn sâu hơn trung bình nhiều năm khoảng 10-20 km tại các cửa sông. Bộ cũng yêu cầu kiểm tra công suất, mực nước và chất lượng nước của giếng khai thác nước dưới đất, và rà soát giếng dự phòng.

Với giếng nhà bạn, hiện chưa có dữ liệu chung cho biết độ mặn giếng thay đổi thế nào theo mùa. Cách chắc chắn là đo clorua và TDS ở cả mùa mưa lẫn mùa khô rồi so sánh với ngưỡng 250–300 mg/L và 1.000 mg/L.

Về công nghệ RO: Hệ thống thẩm thấu ngược mang lại lợi ích gì, Hệ thống thẩm thấu ngược tổng có phù hợp với bạn không.

Phèn

Chữ “phèn” trong lời nói hằng ngày gồm hai chuyện. Một là nước nhiều sắt hòa tan. Hai là nước từ vùng đất phèn, thường có pH thấp kèm sắt và nhôm. Đất phèn ở đồng bằng tập trung ở Đồng Tháp Mười, bán đảo Cà Mau và Tứ giác Long Xuyên. Dấu hiệu thường được mô tả gồm vị chua nhẹ, váng nổi trên mặt nước, quần áo giặt bị ố vàng và đường ống sắt hoen gỉ nhanh. Dấu hiệu chỉ gợi ý. Bạn cần số đo pH, sắt, mangan, nhôm để biết giếng nhà mình thuộc loại nào, vì cách xử lý khác nhau.

Xem thêm: Nước axit và các dấu hiệu nhận biết, Mùi trong nước uống.

Asen và mangan ở giếng nước ngọt

  • ĐBSCL phần Việt Nam (Berg và cs., 2007): asen 1-845 µg/L, trung bình 39 µg/L. Số người có nguy cơ nhiễm độc asen mạn tính ước tính 0,5-1 triệu ở đồng bằng sông Cửu Long, so với 10 triệu ở đồng bằng sông Hồng.
  • Khảo sát vùng ngập lũ Mê Công, xuyên biên giới Việt Nam – Campuchia (Buschmann và cs., 2008): 37% giếng vượt 10 µg/L asen; 50% vượt 0,4 mg/L mangan; mangan ở phía Việt Nam đo được 1,0-34 mg/L. Khoảng 2 triệu người uống nước này mà không xử lý.

Nên xét nghiệm những gì, theo vùng

Vùng Chỉ tiêu ưu tiên Cơ sở
Đồng bằng sông Hồng Asen, sắt, mangan, amoni, pH, Coliform và E. coli 65% giếng vượt mốc WHO ở ít nhất một trong asen, mangan, bari, selen; nước giàu sắt và amoni
ĐBSCL ven biển, nghi nhiễm mặn Clorua, TDS, pH, sắt, nhôm, mangan, asen Nước ngầm hạ lưu thường mặn; có vùng đất phèn
ĐBSCL, vùng giếng nước ngọt Asen, mangan, sắt, pH, Coliform và E. coli 37% giếng vượt mốc asen, 50% vượt mốc mangan
Vùng khác Tối thiểu: Coliform và E. coli, pH, sắt, mangan, asen Bài này chưa có số liệu riêng cho các vùng khác

Bộ chỉ tiêu trên là đề xuất của tác giả dựa trên các khảo sát đã nêu, không phải danh mục bắt buộc. Khi đi lấy mẫu:

Kết tủa màu xám (xám xịt) hình thành trong quá trình xử lý nước để loại bỏ Asen
Kết tủa màu xám (xám xịt) hình thành trong quá trình xử lý nước để loại bỏ Asen
  • Lấy mẫu tại vòi bạn dùng để uống và nấu, không lấy ở đầu giếng.
  • Chọn phòng thử nghiệm được công nhận theo ISO/IEC 17025, theo yêu cầu của Thông tư 52/2024/TT-BYT.
  • Đo lại sau khi lắp hệ thống xử lý và mỗi khi nước đổi màu, mùi, vị.

Muốn nắm các khái niệm cơ bản trước khi đi xét nghiệm, xem Nước của tôi an toàn như thế nào?

Xử lý theo kết quả xét nghiệm

Không có “bộ lọc giếng khoan” dùng được cho mọi nhà. Hug và cộng sự (2008) chỉ ra Việt Nam và Bangladesh có thành phần nước ngầm khác nhau nên cần cách giảm asen khác nhau.

Kết quả xét nghiệm Hướng xử lý thường dùng Điều cần biết
Sắt cao, asen vượt ngưỡng Oxy hóa sắt rồi lọc cát Berg và cs. (2006) khảo sát 43 bể lọc cát hộ gia đình ở đồng bằng sông Hồng: 90% đưa asen xuống dưới 50 µg/L, 40% xuống dưới 10 µg/L. Sắt hòa tan là yếu tố quyết định; cần tỷ lệ sắt/asen từ 50 để dưới 50 µg/L, từ 250 để dưới 10 µg/L. Phốt phát trên 2,5 mg P/L làm giảm nhẹ hiệu quả
Asen vượt, sắt thấp (tỷ lệ sắt/asen thấp) Cần thiết kế riêng theo phiếu xét nghiệm đầy đủ Suy ra từ ngưỡng sắt/asen của Berg và cs. (2006): lọc cát đơn thuần dễ không đạt
Mangan cao Thiết kế bước xử lý mangan riêng Đo lại sau xử lý
Mặn (clorua, TDS vượt) Màng RO, hoặc đổi nguồn như nước cấp tập trung, nước mưa trữ Nhiều địa phương ở đồng bằng đã lắp máy lọc RO khi mặn xâm nhập; Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề nghị hướng dẫn dân thu gom, trữ nước mưa
Phèn (pH thấp, sắt, nhôm) Nâng pH, oxy hóa và lọc theo số đo Cách xử lý phụ thuộc đó là nước nhiều sắt hay nước từ đất phèn
Amoni cao và cần khử trùng bằng clo Tính liều clo có tính đến amoni Ở nguồn nước giàu amoni, clo bị giữ thành chloramine, diệt khuẩn kém hơn (Duong và cs., 2003)

Sau xử lý, hãy xét nghiệm lại tại vòi và ghi lại ngày thay vật liệu lọc.

Về giải pháp và chi phí: Bộ lọc tổng đầu nguồn là gì, Bộ lọc POU là gì, Hệ thống xử lý nước được chứng nhận như thế nào, Khi nào nên thay bộ lọc, Chi phí lắp đặt hệ thống lọc nước.

Câu hỏi thường gặp

Nước giếng khoan trong, không mùi có uống được không? Chưa đủ căn cứ. Asen không có màu, mùi hay vị. Chỉ xét nghiệm mới cho biết nước có đạt ngưỡng hay không.

Đun sôi có loại được asen không? Không. Đun sôi diệt vi sinh vật nhưng không loại asen hay kim loại.

Khoan giếng sâu hơn có sạch hơn không? Không đảm bảo. Asen đã được tìm thấy ở tầng chứa nước sâu hơn 50 m ở đồng bằng sông Hồng, và hai điểm cách nhau 700 m có thể chênh nhau từ dưới 10 đến 600 µg/L.

Nước giếng bị mặn thì xử lý bằng gì? Thường dùng màng RO hoặc đổi nguồn. Trước khi chọn, hãy đo clorua và TDS để biết độ mặn thực tế.

Bao lâu nên xét nghiệm một lần? Theo tóm tắt Thông tư 52/2024/TT-BYT trên cổng UNEP LEAP, đơn vị cấp nước và đơn vị sử dụng nước nội kiểm nhóm A hằng tháng, nhóm B sáu tháng một lần, cơ quan y tế ngoại kiểm hằng năm. Tài liệu chúng tôi đọc không nêu tần suất riêng cho hộ gia đình. Gợi ý của tác giả: xét nghiệm đầy đủ một lần, rồi lặp lại khi nước đổi màu, mùi, vị, khi thay vật liệu lọc hoặc khi xung quanh nhà có thêm giếng mới.

Giếng không dùng nữa thì phải làm gì? QCVN 83:2024/BTNMT quy định việc trám lấp giếng không sử dụng và áp dụng với cả hộ gia đình, cá nhân; chủ giếng có giếng trám lấp phải thông báo theo quy chuẩn.

Kết luận

Giếng khoan không xấu. Nhưng ở hai đồng bằng đông dân nhất cả nước, nước ngầm mang theo những chất mà mắt thường không nhìn ra, và hậu quả của chúng đến chậm. Việc nên làm trong tuần này khá đơn giản: lấy mẫu tại vòi, gửi phòng thử nghiệm đạt ISO/IEC 17025, rồi so kết quả với bảng ngưỡng ở trên. Từ đó mới chọn lọc cát, RO hay đổi nguồn.

Nếu bạn muốn nhờ đọc phiếu kết quả hoặc tư vấn lấy mẫu, đội kỹ thuật của chúng tôi luốn sẵn sàng hỗ trợ 24/7  Hotline: 0942.868.979

Nguồn tham khảo

  • Eawag, Ô nhiễm nước ngầm tại đồng bằng sông Hồng / Việt Nam, trang tổng hợp các công bố (đã đọc tóm tắt): https://www.eawag.ch/en/department/wut/main-focus/contaminant-hydrology/o-nhiem-nuoc-ngam-tai-dong-bang-song-hong-viet-nam/
  • Berg và cs. (2001), Environ. Sci. Technol. 35(13): doi:10.1021/es010027y. Berg và cs. (2006), 40(17): doi:10.1021/es060144z. Berg và cs. (2007), Sci. Total Environ. 372: doi:10.1016/j.scitotenv.2006.09.010. Buschmann và cs. (2008), Environ. Int. 34(6): doi:10.1016/j.envint.2007.12.025. Winkel và cs. (2011), PNAS 108(4): doi:10.1073/pnas.1011915108. Eiche và cs. (2008), Appl. Geochem. 23: doi:10.1016/j.apgeochem.2008.06.023. Duong và cs. (2003), Water Res. 37(13): doi:10.1016/S0043-1354(03)00138-6. Hug và cs. (2008), Environ. Sci. Technol. 42(17): doi:10.1021/es7028284
  • Thông tư 52/2024/TT-BYT và QCVN 01-1:2024/BYT; bảng ngưỡng theo Thư viện Pháp luật: https://thuvienphapluat.vn/banan/tin-tuc/qcvn-01-12024byt-danh-muc-cac-thong-so-chat-luong-nuoc-sach-dung-cho-sinh-hoat-tu-0172025-15731.html
  • UNEP LEAP, tóm tắt Thông tư 52/2024/TT-BYT: https://leap.unep.org/en/countries/vn/national-legislation/circular-no-522024tt-byt-national-technical-regulation-and
  • QCVN 09:2023/BTNMT về chất lượng nước dưới đất: https://english.luatvietnam.vn/tai-nguyen/qcvn-092023-btnmt-on-ground-water-quality-245776-d3.html
  • QCVN 83:2024/BTNMT về trám lấp giếng không sử dụng: https://thuvienphapluat.vn/TCVN/Tai-nguyen-Moi-truong/QCVN-83-2024-BTNMT-tram-lap-gieng-khong-su-dung-921286.aspx
  • Việt Báo, Hạn mặn có thể đến sớm, phải tích trữ nước ngọt ngay từ bây giờ (17/10/2026), nội dung Công văn 11942/BNNMT-TNN: https://vietbao.vn/han-man-co-the-den-som-phai-tich-tru-nuoc-ngot-ngay-tu-bay-gio-611782.html
  • Tiền Phong, Xâm nhập mặn lấn sâu 40-60km ở Đồng bằng sông Cửu Long (21/03/2026): https://tienphong.vn/xam-nhap-man-lan-sau-40-60km-o-dong-bang-song-cuu-long-post1829043.tpo
  • 1thegioi.vn, Hạn mặn làm khó ĐBSCL, nhiều địa phương khẩn trương ứng phó: https://1thegioi.vn/han-man-lam-kho-dbscl-nhieu-dia-phuong-khan-truong-ung-pho-248761.html
  • Báo Sài Gòn Giải Phóng, ĐBSCL kích hoạt giải pháp ứng phó xâm nhập mặn: https://dttc.sggp.org.vn/dbscl-kich-hoat-giai-phap-ung-pho-xam-nhap-man-post131792.html
  • Báo Nhân Dân, Báo động ô nhiễm Asen trong nguồn nước sinh hoạt: https://nhandan.vn/bao-dong-o-nhiem-asen-trong-nguon-nuoc-sinh-hoat-post594202.html
  • Viện Quy hoạch Thủy lợi, luận án về lan truyền nước phèn vùng Tứ giác Long Xuyên: https://vawr.org.vn/Upload/Daotao/NCS/2023/ttla_vie_ncs-tranky2023.pdf

Tác giả:Nguyễn Trường, kỹ sư xử lý nước sinh hoạt.

Chia sẻ bài đăng này

Hotline: 0942.868.979